Category QUẢN LÝ TÀI CHÍNH

Nhu cầu vốn lưu động: Làm thế nào để tính toán đơn giản và chính xác?

Doanh nghiệp nhỏ cần xác định rõ nhu cầu vốn lưu động hàng năm. Việc này giúp tính toán mức vay vốn cụ thể và đạt hiệu quả tối ưu. Đây cũng là cơ sở để thương lượng với các Ngân hàng và Bên cấp vốn khác.

Nhu cầu vốn lưu động doanh nghiệp nhỏ
Designed by Racool_studio / FreepikFinance. Accounting documents on the table

Các Doanh nghiệp nhỏ và vừa có vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển kinh tế của mỗi quốc gia. Hiện nay, ở Việt Nam có tới 95% doanh nghiệp là các doanh nghiệp nhỏ và vừa.

Đáng chú ý, tài chính của họ có cơ cấu vốn tạo nên tài sản ngắn hạn hình thành một cách ngẫu nhiên và thụ động.

Cơ cấu vốn doanh nghiệp

Cơ cấu vốn doanh nghiệp mô tả nguồn gốc và phương pháp hình thành nên nguồn vốn để tài trợ cho tài sản ngắn hạn, có thể biểu diễn 04 dạng hình thái như sau:

1. Cơ cấu vốn Không xuất hiện nhu cầu vốn vay Ngân hàng.

Cơ cấu vốn Không xuất hiện nhu cầu vốn vay Ngân hàng

2. Cơ cấu vốn xuất hiện nhu cầu vốn vay Ngân hàng, nhưng quy mô không đáng kể.

Cơ cấu vốn xuất hiện nhu cầu vốn vay Ngân hàng, nhưng quy mô không đáng kể

3. Cơ cấu vốn xuất hiện nhu cầu vốn vay Ngân hàng, quy mô cao hơn so với nguồn vốn Phi ngân hàng

Cơ cấu vốn xuất hiện nhu cầu vốn vay Ngân hàng, quy mô cao hơn so với nguồn vốn Phi ngân hàng

4. Cơ cấu vốn xuất hiện nhu cầu vốn vay Ngân hàng, và mức độ biến động thường xuyên

Cơ cấu vốn xuất hiện nhu cầu vốn vay Ngân hàng, và mức độ biến động thường xuyên
1000

Những điều rút ra từ các hình thái cơ cấu vốn doanh nghiệp

1. Nguồn vốn tài trợ cho Tài sản ngắn hạn đến từ 2 nguồn chính:

  • Vốn phi tín dụng ngân hàng: nợ thương mại, vay mượn người thân, bạn bè,…
  • Vốn tín dụng ngân hàng: vay ngân hàng.

2. Giá trị tài sản ngắn hạn là một đại lượng biến động liên tục theo thời gian

Và chịu tác động bởi 3 yếu tố chính:

  • T: Yếu tố xu thế (Trend)
  • S: Yếu tố mùa vụ (Seasonality)
  • I: Yếu tố bất quy tắc (Irregular)

Với 2 mô hình phổ biến sau:

Mô hình Cộng: Giá trị TSNH = T + S + I

Mô hình Nhân: Giá trị TSNH = T x S x I

Như vậy, giá trị Tài sản ngắn hạn là một đại lượng luôn luôn biến động theo thời gian và chịu tác động bởi 3 yếu tố bất quy tắc. Cho nên, vấn đề dự báo để làm căn cứ xây dựng cơ cấu nguồn vốn, gồm vốn vay ngân hàng là khá phức tạp.

Các ngân hàng đang phục vụ nhu cầu vay vốn ngắn hạn như thế nào?

Do tính phức tạp nêu trên, hầu hết các Ngân hàng mất nhiều thời gian và công sức cho việc thẩm định hồ sơ tín dụng doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ. Đồng thời, nhiều kỹ thuật cho vay được các Tổ chức tín dụng thiết lập nhằm phục vụ đúng nhu cầu biến động này.

Các kỹ thuật cho vay của ngân hàng

Cho vay hạn mức tín dụng

Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi đề cập đến Cho vay theo Hạn mức tín dụng. Đây là kỹ thuật cho vay phổ biến để phục vụ nhu cầu vốn lưu động của doanh nghiệp nhỏ tại hầu hết các Ngân hàng như Vietcombank, BIDV, ACB hay OCB.

MicroFund đã thống kê các phương pháp xác định hạn mức tín dụng mà các Ngân hàng tại Việt Nam áp dụng từ trước đến nay như sau:

  • Phương pháp vốn lưu động ròng phải tham gia 1 tỷ lệ tối thiểu tính trên phần chênh lệch giữa tài sản ngắn hạn và tài sản nợ lưu động phi ngân hàng (gọi là tỷ lệ tham gia).
  • Phương pháp VLĐ ròng phải tham gia một tỷ lệ tối thiểu so với tổng tài sản lưu động.
  • Phương pháp VLĐ của người đi vay phải tham gia một tỷ lệ tối thiểu so với tổng tài sản lưu động chưa có quỹ dài hạn bù đắp.
  • Phương pháp phần trăm theo doanh thu.
  • Phương pháp phần trăm theo giá trị tài sản bảo đảm.
  • Phương pháp dựa vào chu kỳ vận động của vốn lưu động.
  • Phương pháp lập bảng cân đối kế toán mẫu.
  • Phương pháp dự báo dựa vào chu kỳ vận động của vốn.
  • Phương pháp dự báo dòng tiền.

Hạn mức tín dụng Ngân hàng có đảm bảo đủ Nhu cầu vốn lưu động cho doanh nghiệp?

Kết quả xác định giá trị hạn mức tín dụng bằng các phương pháp trên cũng chỉ là căn cứ tham chiếu để thương lượng với người vay. Và tất nhiên tại mỗi thời điểm, hạn mức tín dụng này có thể cao hơn hoặc thấp hơn nhu cầu vốn thực tế để tài trợ tài sản ngắn hạn.

Tuy nhiên, theo quan sát của chúng tôi, phần lớn mức tài trợ thấp hơn nhu cầu thực tế của Doanh nghiệp. Đó chính xác là lý do tại sao hầu hết Doanh nghiệp tại Việt Nam luôn chê các Ngân hàng cho vay không đủ.

Quyền lực thương lượng của Doanh nghiệp sẽ là Giá trị tài sản (bất động sản, xe cộ, máy móc thiết bị, hàng hoá, khoản phải thu,…). Ngân hàng sẽ căn cứ vào Tỷ lệ cho vay/ Giá trị tài sản bảo đảm, ví dụ cho vay 70% giá trị tài sản, để tính toán ngược lại Hạn mức tín dụng, nhằm giữ chân khách hàng.

Nhu cầu vốn lưu động: cách tiếp cận mới dựa trên dữ liệu và công nghệ

MicroFund đã nghiên cứu phương pháp tính toán nhanh dựa trên dữ liệu lớn và công nghệ.

Hạn mức tín dụng: tính toán nhanh
HMTD: hạn mức tín dụng
  • X1: Giá trị hàng tồn kho năm nay
  • X2: Nợ phải trả năm nay
  • X3: Vốn chủ sở hữu năm nay
  • X4: Doanh thu năm nay
  • X5: Doanh thu năm kế hoạch

Ví dụ cụ thể:

  • Giá trị hàng tồn kho năm nay: 4.890 triệu đồng
  • Nợ phải trả năm nay:                 5.675 triệu đồng
  • Vốn chủ sở hữu năm nay:         3.500 triệu đồng
  • Doanh thu năm nay                 14.231 triệu đồng
  • Doanh thu năm kế hoạch:      16.000 triệu đồng

Kết quả tính toán Hạn mức tín dụng: Từ 2.747 đến 2.815 triệu đồng

Làm thế nào để tính toán nhanh, chỉ trong vài giây?

Mục đích của chúng tôi là tiết kiệm thời gian cho ngân hàng trong công tác thẩm định tín dụng doanh nghiệp, từ đó Doanh nghiệp nhỏ sẽ được phục vụ nhanh hơn, kịp thời cho các cơ hội kinh doanh. Tuy nhiên, mọi việc tính toán phức tạp sẽ trở nên vô nghĩa nếu không thể hỗ trợ Ngân hàng và Chủ doanh nghiệp ngay lập tức.

Chúng tôi đã chuẩn bị sẵn công cụ tính toán toán nhanh trên website để hiện thực hoá nhu cầu này.

https://www.microfund.vn/#nhu-cau-von-luu-dong

Nhu cầu vốn lưu động: tính toán nhanh trên website microfund
https://www.microfund.vn/#nhu-cau-von-luu-dong
nhucauvonvay

MicroFund

Trái phiếu doanh nghiệp: ”Cần tăng cường minh bạch thông tin và hình thành kênh giao dịch thứ cấp”

Quy mô thị trường trái phiếu đang ngày càng lớn, đòi hỏi về sự phát triển bền vững cho thị trường theo đó cũng ngày càng trở nên cấp thiết. Xung quanh vấn đề này, VietnamFinance đã có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Quang Thuân – Chủ tịch kiêm Tổng giám đốc FiinGroup.

Theo thống kê của Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội (HNX), giá trị trái phiếu phát hành trong nửa đầu năm 2020 thông qua kênh trái phiếu riêng lẻ lên đến 156.327 tỷ đồng. Riêng tháng 6, giá trị phát hành riêng lẻ đạt 42.473 tỷ đồng, bật tăng mạnh so với các tháng liền trước. Đây cũng là tháng có quy mô huy động lớn thứ hai trong các tháng kể từ khi bắt đầu ghi nhận số liệu thống kê từ HNX hồi tháng 8/2019, chỉ đứng sau giá trị phát hành vào tháng 12/2019.

– Dữ liệu từ HNX cho thấy 6 tháng đầu năm 2020, tổng lượng trái phiếu doanh nghiệp phát hành tăng 50% so với cùng kỳ năm ngoái. Theo ông, điều gì đã thúc đấy sự tăng trưởng ấn tượng này, cả từ phía người mua và từ phía người bán?

Ông Nguyễn Quang Thuân – Chủ tịch kiêm Tổng giám đốc FiinGroup: Theo tôi có 3 điểm chính thúc đẩy sự tăng trưởng này. Thứ nhất là ở góc độ các đơn vị phát hành, mặc dù nhìn chung trong quý I và quý II, quy mô đầu tư vào tài sản cố định (CAPEX) của các doanh nghiệp có giảm nhưng nhu cầu vốn vẫn rất lớn, đặc biệt là ngành bất động sản.

Thứ hai là định hướng của chính phủ và ngành ngân hàng là giảm tỷ trọng cho vay trung và dài hạn nhằm giảm áp lực cho ngành ngân hàng, đẩy sang cho kênh trái phiếu. Điều đó tốt vì khủng hoảng lần trước là do cho vay phi tài chính, trong đó cho vay bất động sản là chính. Các doanh nghiệp bất động sản khó khăn đã ảnh hưởng lớn đến các ngân hàng.

Thứ ba là ở góc độ nhà đầu tư cá nhân. Họ thích kênh đầu tư nào có lợi suất cao và quan trọng là họ có tiền. Thay vì gửi tiết kiệm 4-5%/năm, chơi chứng khoán quốc tế, vàng, bạc, dầu, thậm chí cá độ, lô đề…, đầu tư bất động sản thì phức tạp hơn vì phải đánh giá thị trường, họ đẩy sang kênh đầu tư có lãi suất danh nghĩa 8-9%/năm, thậm chí 10-12%/năm.

3 điểm đó tổng hòa, phản ánh sự gia tăng giá trị phát hành trái phiếu doanh nghiệp trên thị trường sơ cấp trong những năm vừa qua, đặc biệt là trong 6 tháng đầu năm nay.

Tuy nhiên, bên cạnh lợi nhuận thì cũng cần lưu ý vế sau là rủi ro. Điều này đặt ra vấn đề hình thành thị trường trái phiếu thứ cấp và minh bạch thông tin. Cũng như cổ phiếu, nhu cầu thanh khoản cho trái phiếu cũng quan trọng.

– Quy mô thị trường trái phiếu doanh nghiệp ngày càng lớn phần nào cho thấy nhu cầu huy động vốn trung và dài hạn của các doanh nghiệp là rất lớn. Ông có cho rằng kênh trái phiếu doanh nghiệp trong tương lai có thể trở thành đối trọng thực sự của kênh ngân hàng trong việc huy động vốn trung và dài hạn cho doanh nghiệp hay không?

Tôi nghĩ là đương nhiên. Kênh trái phiếu doanh nghiệp là đối trọng, là một “chân kiềng” rất cần thiết cho thị trường vốn. Tất nhiên không có nghĩa là ngân hàng không cung cấp vốn trung và dài hạn nhưng tỷ lệ, cơ cấu phải đảm bảo an toàn hệ thống.

Ở các nước trong khu vực và trên thế giới, tùy mức độ phát triển khác nhau, thị trường trái phiếu doanh nghiệp đa phần có quy mô lớn, thậm chí lớn hơn cả thị trường cổ phiếu nếu ở các nước phát triển.

Tại Việt Nam, nếu tính theo giá trị phát hành và đang lưu hành hàng năm thì quy mô thị trường trái phiếu doanh nghiệp đang ở mức cỡ khoảng 10-11% GDP, trong khi thị trường cổ phiếu đang ở mức khoảng 80% GDP.

– Theo ông, có thuận lợi và rào cản gì trong việc phát triển thị trường trái phiếu doanh nghiệp để kênh này trở thành đối trọng thực sự về quy mô so với kênh ngân hàng?

Thuận lợi là mức độ phát triển của thị trường đang rất thấp và nhu cầu thực sự là có, điều đó thể hiện ngay ở số liệu phát hành thời gian qua.

Rào cản thì khá nhiều. Thứ nhất là về thị trường thứ cấp. Chúng ta phải tạo thanh khoản cho trái phiếu doanh nghiệp. Điều đó tốt cho cả công ty chứng khoán và các đơn vị bảo lãnh. Vốn của công ty chứng khoán có hạn, vốn của ngân hàng cũng có hạn, không thể phát hành ra thị trường và cam kết bảo lãnh mãi được.

Mua lại cũng rất rủi ro, nếu giá thị trường của trái phiếu về 0 khi doanh nghiệp phá sản thì liệu đơn vị bảo lãnh có đủ vốn để mua lại không? Quy mô nhỏ như hiện tại thì có thể nhưng nếu gấp đôi mức này thì hệ lụy có thể lây sang cả ngân hàng và công ty chứng khoán – những đơn vị đứng ra bảo lãnh.

Thế nên, phải có thị trường thứ cấp.

Rào cản thứ hai liên quan đến nhà đầu tư cá nhân.

Nhà đầu tư cá nhân chuyển từ tiết kiệm sang mua trái phiếu, một phần vì các đơn vị phân phối, bao gồm ngân hàng và công ty chứng khoán thuyết phục họ. Vấn đề là lãi suất cao thì rủi ro đi kèm thế nào, doanh nghiệp nào phát hành, sức khỏe doanh nghiệp đó ra sao, định hạng tín nhiệm ở mức nào, thanh khoản trái phiếu tốt hay không…, đa phần nhà đầu tư cá nhân không biết.

– Thống kê của Công ty Chứng khoán SSI cho thấy, tỷ trọng nhà đầu tư cá nhân mua trực tiếp trái phiếu doanh nghiệp sơ cấp trong 6 tháng đầu năm lên tới 15%, trong khi năm 2019 trung bình chỉ 10%, cho thấy kênh trái phiếu doanh nghiệp đang ngày càng hấp dẫn nhà đầu tư cá nhân. Mặt khác, cơ quan quản lý lại liên tục cảnh báo nhà đầu tư cá nhân không nên mua trái phiếu doanh nghiệp chỉ vì lãi suất cao. Là người nghiên cứu kỹ về các mô hình thị trường trái phiếu doanh nghiệp trên thế giới, ông có thể chia sẻ về điều này? Tại các thị trường khác, tỷ trọng nhà đầu tư cá nhân tham gia có lớn hay không?

Theo tôi được biết thì tùy nước. Có những nước như Nhật chỉ chủ yếu là nhà đầu tư tổ chức. Malaysia thì kết hợp cả nhà đầu tư cá nhân và tổ chức, Thái Lan cũng vậy. Nhưng với Trung Quốc và tôi nghĩ rằng với cả Việt Nam, thị trường trái phiếu doanh nghiệp vẫn phải hướng đến nhà đầu tư cá nhân.

Đương nhiên, thị trường vốn sẽ dần hình thành và chuyển vốn sang các kênh quản lý chuyên nghiệp, trong đó có quỹ đầu tư trái phiếu (bond fund). Thế nhưng phải chấp nhận thực tế là 5, 10 năm nữa, sự tham gia của nhà đầu tư cá nhân vẫn rất phổ biến.

Luật chứng khoán sửa đổi đã phân định ra nhà đầu tư chuyên nghiệp và nhà đầu tư cá nhân. Điều đó rất tốt. Cùng với đó, có các ràng buộc cho các đơn vị phát hành, phân phối trái phiếu doanh nghiệp cũng là một sự thay đổi rất kịp thời.

Thế nên, hạ tầng phát triển thị trường trái phiếu doanh nghiệp phải đi theo. Chẳng hạn, công bố thông tin, định hạng tín nhiệm… phải được thực hiện vì nhà đầu tư trái phiếu khác nhà đầu tư cổ phiếu. Nhà đầu tư cổ phiếu còn được đi họp cổ đông một năm một lần, còn được đọc công bố thông tin rất đầy đủ, nhưng nhà đầu tư trái phiếu thì không được như vậy.

Do đó, chuẩn hóa công bố thông tin để đảm bảo quyền lợi nhà đầu tư trái phiếu là cực kỳ quan trọng. Khi bạn gửi tiền, bạn được đảm bảo bởi các quy định rất chặt của ngân hàng, bởi bảo hiểm tiền gửi nhưng mua trái phiếu thì không được bảo đảm như vậy. Trong khi đó, công bố thông tin còn khá mù mờ, cần cải thiện.

Một rào cản nữa liên quan đến an toàn hệ thống. Đối với ngân hàng, Ngân hàng Nhà nước cơ bản quản lý được, nắm được những rủi ro trên thị trường. Trái phiếu thì khó khăn hơn, thậm chí nhìn thấy rủi ro nhưng khó xử lý.

Ví dụ ngân hàng cho vay thì còn có thể đảo nợ, sắp xếp xoay vòng vốn, hoặc có biện pháp kỹ thuật để tái cấu trúc. Còn với hàng chục nghìn nhà đầu tư trái phiếu chuyển từ tiết kiệm sang, đến một ngày họ không nhận được lãi, gốc thì mới tá hỏa tìm doanh nghiệp phát hành, lúc đó có thể lại kéo nhau đến ngân hàng giống như những vụ condotel vừa qua.

– Rất nhiều người khi chuyển từ tiết kiệm sang mua trái phiếu, thậm chí họ còn không phân biệt được 2 kênh đầu tư này…?

Đó là vấn đề về minh bạch thông tin sản phẩm. Đó là trách nhiệm của đơn vị phân phối và trực tiếp là các nhân viên đi tư vấn đầu tư, bán hàng. Điều này cho thấy quy chuẩn môi giới trái phiếu phải được hoàn thiện. Giống như môi giới chứng khoán, môi giới trái phiếu cũng phải được đào tạo, cấp chứng chỉ.

Nhìn chung, cơ quan quản lý cần tăng cường giám sát, tránh để các tổ chức, cá nhân làm không chuẩn chỉnh.

Theo tôi, bây giờ là lúc phải hành động. Không nên để đến lúc quy mô thị trường trái phiếu doanh nghiệp quá lớn, xảy ra nhiều vụ như condotel vừa rồi thì xử lý là rất muộn, bởi chính sách bao giờ cũng có độ trễ. Nếu bắt tay làm ngay bây giờ thì 3, 5 năm sau, nếu xảy ra vấn đề thì cũng chỉ là lốm đốm và xử lý được. Nếu không làm, đến lúc quy mô thị trường lớn, cá nhân đã mua nhiều thì tiềm ẩn rủi ro rất lớn.

Hiện thị trường trái phiếu doanh nghiệp của Việt Nam còn mới, đương nhiên tạo điều kiện phát triển là tốt nhưng quy mô cũng đã đến 10-11% GDP thì phải khẩn trương, kịp thời có các biện pháp để phát triển bền vững… Nếu để phát triển đến cỡ 70% GDP, quả bóng đã rất to thì không cần kim sắt, chỉ cần chạm nhẹ là có thể nổ.

Theo: Tùng Lâm – Vietnamfinance.vn

https://bit.ly/3eZ9t5h

Trái phiếu doanh nghiệp là xu hướng tất yếu

Trái phiếu doanh nghiệp có quy mô tăng trưởng bình quân tới 45%/năm giai đoạn từ 2017 đến 6 tháng năm 2020. Và với kết quả trên, quy mô thị trường này đã vượt xa mục tiêu 7% GDP vào năm 2020 mà Chính phủ từng tính toán trước đây.

Tình hình phát hành riêng lẻ trái phiếu doanh nghiệp (TPDN) 6 tháng đầu năm 2020

Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội vừa công bố, xu hướng tăng trưởng mạnh mẽ trong năm 2019 tiếp tục thể hiện, ngay cả trong bối cảnh có ảnh hưởng của dịch Covid-19.

Cụ thể, tổng cộng đã có 818 đợt phát hành của 130 doanh nghiệp, với tổng giá trị phát hành đạt 156,32 nghìn tỷ đồng, tương đương với khoảng 6,7 tỷ USD, trong nửa đầu năm nay. So với cùng kỳ 2019, tốc độ tăng trưởng ghi nhận lên tới gần 50%, thậm chí có thể sẽ còn cao hơn do các thông tin phát hành vẫn được công bố và cập nhật sau đó.

Tính toán của Công ty Chứng khoán Sài Gòn (SSI) cho thấy, tổng lượng TPDN lưu hành ước khoảng 783.000 tỷ đồng, tương đương 12,8% GDP lũy kế 12 tháng gần nhất..

Vì sao tăng trưởng mạnh mẽ?

Mặc dù liên tục tăng trưởng nhanh, đặc biệt hai năm gần đây, nhưng thị trường TPDN Việt Nam vẫn được xem còn mới. Cũng chính những nhân tố mới đã kích thích sự mở rộng mạnh mẽ này. TPDN đã có thâm niên hàng chục năm trên thị trường Việt Nam. Nó cũ với các ngân hàng thương mại (NHTM) – đối tượng nắm giữ chủ yếu và truyền thống. Nhân tố mới và kích thích ở đây khi thị trường này có thêm các chủ thể khác tham gia.

Báo cáo năm 2018 của Công ty Chứng khoán VCBS từng lưu ý rằng: đã có sự chuyển dịch nắm giữ TPDN sang các công ty bảo hiểm và quỹ đầu tư. Đây cũng là một cú hích chính yếu, khi làn sóng dịch chuyển cơ cấu danh mục thể hiện do cơ hội đầu tư vào trái phiếu Chính phủ (TPCP) không còn hấp dẫn như trước. Thực tế, từ năm 2016 sang 2017, rồi đặc biệt trong 2019 và nửa đầu 2020, lãi suất TPCP liên tục giảm mạnh và sâu.

Nếu như khoảng 5 năm trước, TPCP kỳ hạn 10 năm phải căng lãi suất lên cỡ 7%/năm để huy động thành công, thì đến 2019 và hiện chỉ còn quanh 2,7%/năm.Nói cách khác, TPDN trở thành một điểm đến mới trong nhu cầu đa dạng danh mục đầu tư của các tổ chức tài chính. Nguồn cung cũng gia tăng nhanh chóng.

Nhìn lại, giai đoạn trên cũng là yêu cầu đặt ra căng thẳng trong thực hiện chính sách siết dần giới hạn dùng vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn tại các NHTM. Nguồn tín dụng trung dài hạn trở nên hạn hẹp, hoặc phải đánh đổi với lãi vay cao. Nhiều doanh nghiệp sử dụng công cụ trái phiếu, tạo hàng như một giải pháp, phản ứng tạo cung trên thị trường, đặc biệt ở lĩnh vực bất động sản.

Thêm nữa, một thị trường hiện đại hơn dần hình thành. Mô hình ngân hàng kết nối đầu tư, các quỹ đầu tư trái phiếu, công ty chứng khoán bảo lãnh thanh khoản… phát triển dần. Ở đây, sức hút đối với sự tham gia của nhà đầu tư cá nhân bắt đầu thể hiện.

Từ một sản phẩm gần như tuyệt đối chỉ dành cho tổ chức, TPDN những năm gần đây đã mở rộng sang nhóm khách hàng cá nhân. Tỷ trọng nắm giữ của họ qua thị trường sơ cấp đã lên tới 9,4% cuối năm 2019, rồi tăng mạnh lên khoảng 27% nửa đầu năm nay.

Quy mô đó còn lớn hơn nhiều nếu thống kê thêm tỷ trọng thứ cấp, các tổ chức mua qua sơ cấp rồi phân phối lại cho nhà đầu tư cá nhân. Nhà đầu tư cá nhân – nhân tố mới đã và đang góp thêm lực đẩy cho xu hướng mở rộng mạnh mẽ của thị trường TPDN.

Trái phiếu doanh nghiệp có nhiều yếu tố hậu thuẫn

Như trên, TPDN trở thành một điểm đến trong nhu cầu đa dạng danh mục đầu tư, khi lãi suất TPCP kém hấp dẫn. Chênh lệch lãi suất ở đây cũng chính là lực hút các nhà đầu tư cá nhân.

Theo thống kê của SSI, tính bình quân gia quyền theo giá trị phát hành năm 2019, lãi suất TPDN trung bình toàn thị trường là 8,8%/năm. Song, trong 2019 và hiện nay có khá nhiều TPDN lãi suất từ 10 – 11%/năm, cao hơn nhiều so với lãi suất tiền gửi ngân hàng. Trong đó, một cấu phần phát hành lớn, chiếm lớn nhất tại nhiều thời điểm thống kê, là trái phiếu của các NHTM. Chênh lệch lãi suất ở đây hấp dẫn, trong khi mức độ rủi ro được so sánh như gửi tiền ở chính ngân hàng – nhà phát hành trái phiếu.

Chênh lệch lãi suất cũng chính là điểm đang hậu thuẫn cho TPDN

Hậu thuẫn này có nền tảng là thanh khoản hệ thống NHTM đang dồi dào, dự báo tiếp tục thuận lợi trong 6 tháng cuối năm khi NHNN duy trì chính sách tiền tệ nới lỏng thận trọng, chưa kể khả năng cơ quan này trở lại mua vào ngoại tệ và tạo thêm nguồn tiền cung ứng. Trong khi đó, tín dụng tăng trưởng thấp và chậm.

Những diễn biến trên đã và đang được cụ thể hóa bằng đà sụt giảm của lãi suất huy động VND. Chênh lệch có lợi cho lãi suất TPDN theo đó càng tạo thêm sức hút nhà đầu tư. Nhìn gần thêm một chút nữa, tháng 10/2020 cũng đang đến – thời điểm thực hiện hạ thêm một nấc giới hạn dùng vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn của các NHTM.

Nguồn cung trái phiếu và sự sôi động dự báo sẽ nối tiếp, khi các NHTM cũng có nhu cầu sử dụng công cụ này để cân đối vốn đầu vào trung dài hạn… Tuy nhiên, có khả năng NHNN sẽ lùi mốc hẹn siết lại này thêm 6 tháng hoặc 1 năm. Dữ liệu so sánh tại thời điểm tháng 9/2019, TPDN chiếm tỷ trọng lớn tại các thị trường phát triển như Hàn Quốc, Singapore, Hồng Kông…

Mạnh mẽ nhưng còn sơ khởi, xu hướng mở rộng là tất yếu

Từ trong năm 2019, trước xu hướng tăng trưởng mạnh mẽ của thị trường TPDN, Bộ Tài chính đã lên tiếng cảnh báo rủi ro tiềm ẩn, nhất là đối với sự tham gia của nhà đầu tư cá nhân. Năm 2020, sau quý I xu thế mở rộng tiếp tục thể hiện, có hơi hướng mạnh hơn, Bộ Tài chính liên tiếp có thêm cảnh báo.

Tuy vậy, ngay cả khi đã đạt quy mô khoảng 12,8% GDP, trong một báo cáo đầu năm nay, khối phân tích của SSI vẫn cho rằng thị trường TPDN Việt Nam mới chỉ ở giai đoạn sơ khởi. Bởi lẽ, cân đối thị trường tài chính Việt Nam vẫn như “đảo ngược” so với các thị trường phát triển. Cụ thể, tại các thị trường phát triển, tỷ lệ tín dụng trên GDP thấp, ngược lại tỷ lệ trái phiếu trên GDP áp đảo; còn tại Việt Nam thì ngược lại với chênh lệch quá lớn.

Theo thống kê của Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB), tổng quy mô thị trường trái phiếu Việt Nam (gồm cả TPCP và TPDN) tại 30/9/2019 là 95,37 tỷ USD, tương đương 37,6% GDP – là mức tương đương với Philippines nhưng còn cách khá xa Trung Quốc, Thái Lan (xấp xỉ 60% GDP). Các nước càng phát triển thì tỷ trọng kênh trái phiếu trên GDP càng lớn như Nhật Bản là 214% GDP, Hàn Quốc là 120% GDP.

Đặt trong tương quan đó, SSI cho rằng, thị trường trái phiếu, đặc biệt là TPDN, mở rộng là xu hướng tất yếu và phù hợp để tạo sự cân bằng và nâng cao chất lượng thị trường tài chính. Đi cùng xu thế này, TPDN tạo một kênh dẫn vốn trung dài hạn, giảm tải gánh nặng đáp ứng từ hệ thống NHTM – những đầu mối chủ yếu cung cấp dịch vụ tài chính, thanh toán và cho vay ngắn hạn bổ sung vốn lưu động cho các doanh nghiệp mà thôi.

Huy động và cho vay luôn tiềm ẩn rủi ro, đặc biệt ở nhu cầu trung dài hạn. Với xu thế phát triển mạnh mẽ trên, TPDN đang từng bước bóc tách bớt rủi ro ra khỏi bảng cân đối của các NHTM, trở thành một phân khúc mới theo khẩu vị của các chủ thể tham gia thị trường.

Sự phát triển nhanh của thị trường TPDN hiện nay tiềm ẩn những rủi ro nhất định

Như trên, Bộ Tài chính đã liên tiếp khuyến cáo. Và vừa qua, Chính phủ đã ban hành Nghị định 81, với những quy định chặt chẽ hơn về điều kiện phát hành, cơ chế thông tin và minh bạch, tần suất và quy mô phát hành, quy định kiểm toán…, để một mặt bắt nhịp và uốn nắn thị trường phát triển lành mạnh và bền vững, mặt khác tăng cường khung khổ bảo đảm an toàn hơn cho nhà đầu tư.

MINH ĐỨC

https://bizlive.vn/tai-chinh/da-co-nhung-thang-thot-nhung-trai-phieu-doanh-nghiep-la-xu-huong-tat-yeu-3548871.html